Gửi John Nash, cám ơn ông vì một học thuyết thật đẹp và một cuộc đời thật đẹp.
Hôm nay, mưa mưa, cứ cho là tình cờ, cứ cho là vậy, đang làm việc, tự dưng muốn vui, tôi ngẩng lên nhìn ra ngoài cửa sổ qua hai ô kính cường lực trong lớp, dạo này mới phát hiện, nhìn ra thế giới bên ngoài từ trong lớp lúc nào cũng hà-tĩnh và nghệ-an ghê nơi, lúc nào cũng đẹp. Cũng phải, muốn học cái gì mà chẳng phải có lớp?
Cười cười, ngây người ra một tẹo, vươn vai ra sau một tí, nghiêng đầu, xoay. Lạ! Hôm nay chẳng thấy cổ kêu cái “cạch” như mọi khi, hai mắt dắt nhau đi dạo thẳng lên trần nhà chỗ hai cái đèn rọi, tính đứng đó hóng gió chút rồi về, ai ngờ chói quá, cái gì quá chói thì cũng phải nhíu mày thôi. À, khi cậu nhíu mày thì thường mắt nào sẽ nhắm?
Tận dụng lúc hai não trái phải còn đang bận ỏm tỏi giải toán đố, não thì lúc nào cũng thích trả lời cho được bằng văn bản, nhiều lúc im lặng chính là trả lời rồi đấy thôi, một trong ba luận điểm chính của trường phái ngôn ngữ Palo Alto đã kết luận như rứa. Thừa cơ, hai môi trên dưới lén thò tay ôm ghì lấy nhau, kéo bè hai khóe môi ra hai bên, nhưng cái gì lén lén cũng có phần hơi gượng. Thấy cảnh ôm ấp, hai mắt ngượng ngùng định nhắm chặt nhưng rồi thì cũng chẳng cưỡng được tò mò cứ thế mở to, loay hoay liền xin phép não chạy nhanh ra ngoài lớp. Trong lớp thì đâu có được ngại. Thế là mắt chọn dán thật lâu như keo con nai ra chỗ những tán lá xanh nhạt tươi rói sum suê ngay trước cửa ban công, trời lặng gió.
Chắc gió bận đi làm bão ở chỗ nào đó nên tạm cho mảnh đất này chút bình yên. Ngồi một lúc mắt vẫn chưa hết ngại, vẫn chưa chịu trở về lớp, thế là mắt tiếp tục giơ tay xin đường qua phía đối diện ngồi chờ. Bên kia đường cũng là lá cả, toàn lá là lá, nhưng sẫm hơn, nhìn có màu “giang hồ” hơn, cũng đùm đề có kém gì bên này. Chẳng sao cả, đều là cây-lá-cành, thỉnh thoảng trời cho thì là cây-lá-cành-hoa.
Nói về mưa, mưa me me rón rén rơi, mưa khá hỗn hào, chả hỏi ý ai cứ thế bắt đầu tuôn xuống từng dòng, mưa thì lưu loát chứ có chịu mạch lạc bao giờ, muốn mạch lạc thì ắt phải nhờ gió, muốn có gió thì phải lệch nhiệt mà muốn lệch nhiệt thì lại chả phải có nguồn nhiệt cao. Loạn cào cào! Xuân Quỳnh cũng nào có biết!
Trước mặt giờ là hai cái cây, khác sắc độ, khác khoảng cách nhưng cũng đều là xanh. Cả hai, chả cây nào có tiền mua ô nên cứ thế, trời đổ nước lên đầu cả hai. Nhìn cũng tội, nhưng có ai tắm gội mà chẳng cần nước đổ từ đầu, thế là lại nhìn cây cỏ khác đi, đều là đẹp.
Nghĩ linh tinh một lúc, tôi lại chọn nhìn vào trong lớp, bỗng tôi chợt có tâm trạng muốn nghe ít nhạc không lời, dạng dồn dập piano chạy nhiều note lẻ tẻ hay cao trào violin kéo nhả nhanh nhanh pha màu vintage hay cinematic như các bản nhạc đẹp như giao hưởng trong Good Will Hunting, Danish Girl, Theory of Everything, Mr. Nobody, Oppenheimer hay The Imitation Game.
Trong vô số các tác phẩm hay ho như thế, rồi tôi chọn, tôi vốn thích chọn, chọn nhớ về một trong những bộ phim có lẽ sở hữu OST cuốn nhất mà tôi từng biết và cũng nói về một trong những thiên tài toán học có cuộc đời bất hạnh nhất nhì tôi từng nghe qua, chắc chỉ sau người Hà Lan thích vẽ Vincent. Bộ phim làm về câu chuyện của một nhà khoa học nọ bị chẩn đoán tâm thần phân liệt hết gần nửa đời sau nhưng câu chuyện của ông lại thắng đến 4 giải Oscar tên “A beautiful mind.”
Phim được chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của Sylvia Nasar nói về cuộc đời đầy bi kịch, vô vàn thử thách, quá ư là thương-đau nhưng cũng ngập màu sắc nhân văn và có lẽ nơi đó cũng ẩn một chuyện tình không thể đẹp hơn của Nash và người vợ Alicia, người ông đã tình cờ chạm mặt trong lớp vật lý của mình khi ông còn là giáo sư toán ở MIT 1955.
Cũng tình cờ, buổi trưa, sau khi có ‘short meeting’ thú vị với Vic, một cô giáo trẻ trung nhiệt tình, cũng có kiểu “vibe” quan tâm rất lửa đến khoa học phản xạ ứng dụng trong ngành ngôn ngữ Anh, tôi có xem được đoạn Youtube này của Spiderum, thế là vỡ lẽ mới biết hôm nay, 23/5, cũng là kỷ niệm tròn 10 năm ngày mất của thiên tài John Nash. “Lại chắc chỉ là tình cờ thôi,” não lại chưa gì thanh minh. Nash và vợ cùng nhau kết thúc một kiếp nhân sinh trong một vụ tai nạn xe năm 2015. RIP. Mọi thứ đúng là chẳng có gì là tình cờ.
Hè năm nay thật đẹp, có lẽ là đẹp nhất, đẹp vì tôi đã tình cờ tìm thấy điều mà tôi vẫn đang tìm, hóa ra cả một kho báu lại ở ngay trong lớp của tôi. Mừng không phải vì đã sở hữu mà mừng vì tôi đã được nhìn thấy sự tồn tại của kho báu đó. Đang viết dở tay Chunks Theory, nhưng hôm nay tôi muốn ngưng lại dòng suy tưởng của mình đôi chút để viết vài lời về thiên tài toán học/kinh tế học đặc biệt này, người đã dám chọn điên và dám chọn hết điên, người đã xuất sắc đạt Nobel kinh tế 1994 và góp phần thay đổi nền tảng ngành kinh tế và lý thuyết đàm phán chỉ bằng 28 trang luận án, John Nash.
Nhìn lại, tôi chả biết và chả thể biết gì nhiều về cuộc đời người đàn ông tuyệt vời này, thực sự. Như thường lệ, cái tôi tò mò vẫn là vũ trụ trong đầu những thiên tài như ông, điều gì đã thực sự xảy ra khi ông suy tưởng và viết ra những điều khó hiểu trên khung cửa sổ và cả khi hóa điên, những thiên thạch nào đã thực sự va chạm tóe lửa sâu bên trong chu kỳ vận động của dải thiên hà đẹp đẽ đó. Tôi chỉ thấy được chút ít những mảnh vụn qua phim ảnh và qua các bài báo nói về ông.
Lá thư giới thiệu John Nash vào học ngành toán học ở đại học Princeton năm 1948 của người giáo sư đại học Carnegie tên Richard Duffin đã mãi mãi đi vào lịch sử vì lá thư chỉ có vỏn vẹn 5 chữ, đúng 5 chữ, ngắn và gọn: “This man is a genius.” Ông cũng đậu vào Harvard nhưng cuối cùng năm đó Nash chọn vào học Princeton vì ông muốn ở gần hai tượng đài Albert Einstein và John von Neumann.
Tôi chỉ có duyên đọc chút về John khi bắt tay thiết kế trò chơi và có dịp đứng một lớp nhỏ hướng dẫn về lý thuyết trò chơi đầu năm 2023, cụ thể là sự ra đời của bản thiết kế Cờ Tròn đầu năm 2024, hoặc khi bắt đầu quan tâm nghiên cứu về kinh tế học cân bằng khi tập tành vẽ ra kịch bản sườn bài để viết cuốn tiểu thuyết siêu thực “Ơ” và cả những lần phải nghiên cứu nhiều hơn về bài toán “thế lưỡng nan của người tù” trong lý thuyết của Nash khi cần chứng minh cho bài toán rối loạn gãy dòng lưu loát trong quá trình speaking RPD hay khi nói về mô hình lý thuyết Chunks hẹp [SCT] trong quá trình viết nên 26 trang tóm gọn của Chunks Theory, một lý thuyết bàn về âm thanh ngôn ngữ với sự góp sức và hỗ trợ tinh thần của cả đội ngũ CHUNKS team, những người bạn hữu và nhất là những người học trò đáng mến mà có lẽ bản thân tôi cũng đã ấp ủ từ rất rất lâu.
Có lẽ, kỷ niệm ngày ông mất, nghỉ tay viết ra vài lời kính nhớ đến Nash cũng sẽ như đắp thêm chút động lực hôm nay cho tôi tiếp tục lạch cạch gõ Chunks ngày mai…
Điểm thú vị nhất mà cân bằng Nash đã dạy cho tôi đó là bí ẩn bên trong mỗi người về những nỗi sợ cố hữu, về cách những niềm tin chủ quan của chúng ta hình thành khi chúng ta vô tình kích hoạt những nỗi sợ. Đa phần quyết định của chúng ta đều bị ảnh hưởng bởi cả một tập thể xung quanh, nói cách khác, bởi nỗi sợ của mỗi cá nhân trong một trò chơi tập thể. Tất cả đều là những lát cắt rất khó nhìn thấy và lý giải nhưng đều ảnh hưởng mạnh đến kết quả cuối và sau cùng sẽ kết tinh lại thành một điểm có thể dự đoán trước, điểm cân bằng Nash.
Thực ra, đa phần những động lực bên dưới sự bập bênh triền miên qua lại giữa lợi ích cá nhân/tập thể trong một tổ chức hay bài toán địa chính trị giữa hợp tác đồng minh/lợi ích chủ quyền tôi dùng trong thiết kế từng nước cờ trong CỜ TRÒN ® đều là ứng dụng của cái gọi là điểm cân bằng Nash. Đó là lý do tôi xem trò chơi cờ tròn là một dạng kết hợp giữa tư duy chiến lược thuần cờ vua của người Nga và trải nghiệm giao tiếp tâm lý học trong Ma Sói hay những tính toán mang tính thống kê và bài toán trực giác mạnh mẽ ta thường thấy trong Poker Game nổi tiếng của văn hóa đàm phán Mỹ.
Và sau cùng, điều làm tôi vô cùng khâm phục con người tên John Nash này là khả năng phi thường hóa bộ não, ông đã dùng chính lý trí kiên định đến mức không tưởng để chiến đấu và chiến thắng những ảo giác kinh hoàng của bệnh tâm thần phân liệt, từng ngày, từng giờ, mà không dựa quá nhiều vào thuốc điều trị và can thiệp y tế những năm 80, đưa ông vào danh sách một trong những ca khó hiểu nhất trong số những bệnh nhân tâm thần mãi cho đến ngày nay.
Có thể nói, Nash đã tự chữa, tự phản tỉnh và tự làm bộ não thiên tài của mình tỉnh táo trở lại để tự thân, từng bước, tiến lên bục đỏ nhận giải Nobel Kinh Tế năm 1994. Điều thú vị là, ở ông, hẳn đã luôn có một động lực quá lớn để luôn kéo ông trở về với thực tại, và đó có lẽ chính là Alicia, người đã chọn cưới, chọn ly hôn và rồi chọn cưới lại và sống cùng ông 15 năm cuối đời, cũng là lúc bộ phim này ra đời. Nash và Alicia có lẽ cuối cùng đã cùng nhau tìm được điểm cân bằng của trò chơi lớn nhất, trò chơi trong lớp mà chính hai ông bà đã bắt đầu ở MIT năm 1955.
Sài Gòn, CHUNKS office, 23 tháng 5.

